fbpx
Phương Pháp Montessori Là Gì?
Ngày: 06/03/19
Viết bởi: Phan Anh Tú

Nếu bạn là giáo viên đang tìm hiểu Montessori từ góc độ chuyên môn và sư phạm, xin hãy nhấn vào đây. Còn nếu bạn là một phụ huynh tuyệt vời đang tìm kiếm một phương pháp giáo dục để con phát triển tốt nhất hay chỉ đơn giản đang tự hỏi dạy con bằng phương pháp Montessori như thế nào thì xin hãy đọc tiếp.

Montessori Là Gì?

Để trả lời cho câu hỏi ở tiêu đề: Montessori là một phương pháp giáo dục theo chủ nghĩa giáo dục theo thiên hướng tự nhiên sáng tạo bởi Maria Montessorri, nhà giáo dục, tiến sĩ y khoa đầu tiên của Ý, người được 3 lần đề cử giải Nobel hoà bình cho những cống hiến trong lĩnh vực giáo dục và là người tiên phong trong công cuộc đổi mới giáo dục trẻ em ở châu Âu. Các triết lý của Montessori có thể áp dụng được trong toàn bộ quá trình phát triển nền tảng của một con người từ 0 – 18 tuổi (xem thêm hệ thống giáo dục Montessori). Ưu điểm của phương pháp Montessori là tập trung vào phát triển khả năng tự lập của một đứa trẻ, tức là: con sẽ tự làm mọi công việc như chăm sóc, vệ sinh cá nhân, các hoạt động thực hành cuộc sống (ví dụ: làm việc nhà, chăm sóc cây) và tiếp thu kiến thức văn hoá (ví dụ: ngôn ngữ, toán); cha mẹ/giáo viên chỉ là người dẫn đường và quan sát. Cách giáo dục con bằng phương pháp Montessori về cơ bản có thể được tóm lược trong 5 quy tắc sau:

1. Trí Tuệ Thẩm Thấu (The Absorbent Mind)

Trí Tuệ Thẩm Thấu

Điều đầu tiên trước bất kỳ ai cũng phải nắm rõ trước khi bắt đầu ứng dụng phương pháp Montessori là hiểu về Trí Tuệ Thẩm Thấu của con. Bạn đã bao giờ tự hỏi vì sao người lớn học ngôn ngữ rất khó trong khi trẻ lại có thể học tới tận 2-3 ngôn ngữ cùng một lúc và thành thạo chúng mà không cần cố gắng gì chưa? Đặc biệt hơn, người lớn học thêm ngôn ngữ mới dựa trên nền tảng tiếng mẹ đẻ, trong khi trẻ khi sinh ra không hề biết một ngôn ngữ nào để dựa vào, tất cả bắt đầu từ con sô 0! Bí mật nằm ở trí khôn thụ tạo mà chỉ có trẻ em mới có được.

Từ 0 – 6 tuổi (còn gọi là giai đoạn vàng), trẻ sử dụng các giác quan của mình (tay, mắt, tai, mũi, lưỡi) để cảm nhận môi trường xung quanh và thu nhập kiến thức như một miếng bọt biển. Chúng làm điều này một cách tự nhiên, không có ý thức hay lựa chọn để tiếp thu tất cả văn hoá, ngôn ngữ, hành vi của những người xung quanh chúng. Ví dụ: nếu cha mẹ sử dụng nhiều ngôn từ tích cực, trẻ lớn lên cũng sẽ có xu hướng sử dụng chúng; nếu trẻ chứng kiến nhiều cảnh cãi vã, đánh nhau, lớn lên nó cũng có xu hướng thích bạo lực và to tiếng hơn.

Chính vì vậy, thay vì “dạy dỗ” đứa trẻ một cách ép buộc, cha mẹ cần tập trung vào việc tạo môi trường thuận lợi để con tiếp thu một cách tốt nhất, như vậy, cha mẹ cũng đỡ hao tổn công sức, tinh thần và thực ra, đứa trẻ cũng không hiểu những điều dạy dỗ, giáo huấn kia. Nếu bạn đang tự hỏi “tạo môi trường là như thế nào?” thì câu trả lời đơn giản chính là những gì mà bạn cho con tiếp xúc liên tục, hàng ngày: con được quan sát bố mẹ ăn sẽ tiếp thu cách sử dụng thìa, bát, con được sinh hoạt trong môi trường song ngữ, sẽ nói được 2 thứ tiếng tự nhiên ngay từ đầu…

Một câu hỏi quan trọng khác là “khi nào thì con sẽ tiếp thu từng kĩ năng một?”, câu trả lời sẽ nằm trong quy tắc số 2 dưới đây:

2. Các Thời Kỳ Nhạy Cảm (Sensitive Periods)

Các Thời Kỳ Nhạy Cảm

Theo nghiên cứu của Maria, trong giai đoạn từ 0 – 6 tuổi, trẻ có sự hứng thú và phát triển mạnh về các mảng kĩ năng khác nhau trong những thời kỳ rất cụ thể và rõ ràng – được gọi là thời kỳ nhạy cảm. Trong các thời kỳ này, việc học kĩ năng hoặc kiến thức đó rất dễ dàng và tự nhiên, tuy nhiên, ngoài các thời kỳ này, sẽ khó khăn, đòi hỏi công sức và thời gian hơn rất nhiều. Maria đã tìm ra được 11 thời kỳ nhạy cảm:

  1. Trật tự (2 – 4 tuổi): Trẻ khao khát sự đồng nhất, lặp lại, những thói quen, giờ giấc hàng ngày, vị trí cố định của các đồ đạc trong nhà. Trẻ sẽ rất khó chịu nếu có bất kỳ sự khác thường nào.
  2. Vận động (0 – 1 tuổi): Trẻ hình thành những vận động phối hợp và phức tạp bao gồm cầm nắm, sờ, lật, giữ thăng bằng, bò, đi.
  3. Khám phá đồ vật (1 – 4 tuổi): Trẻ cực kỳ hứng thú tìm hiểu đồ vật và những chi tiết nhỏ.
  4. Phép lịch sự và nhã nhặn (2 – 6 tuổi): Trẻ bắt chước những hành vi thể hiện tích lịch sự và lịch thiệp dẫn tới việc dung nạp những tính chất này vào nhân cách của trẻ.
  5. Tôi luyện các giác quan (2 – 6 tuổi): Trẻ cực kỳ thích thú với cảm nhận của 5 giác quan, quan sát và khám phá mọi thứ xung quanh qua tất cả các giác quan này.
  6. Viết (3 – 4 tuổi): Trẻ bị mê hoặc bởi các chữ cái và con số, tìm cách viết lại chúng bằng bút và giấy, giai đoạn này xuất hiện ngay liền trước giai đoạn đọc.
  7. Đọc (3 – 5 tuổi): Trẻ có một sự hứng thú tự phát với những ý nghĩa được biểu trưng qua các mặt chữ và âm thanh đọc của các chữ đấy.
  8. Ngôn ngữ biểu đạt (0 – 6 tuổi): Trẻ sử dụng ngôn từ để giao tiếp: một tiến trình từ bập bẹ đến các từ đơn rồi đến câu hoàn chỉnh, liên tục mở rộng vốn hiểu từ vựng.
  9. Quan hệ không gian (4 – 6 tuổi): Hình thành những ấn tượng về thiết kế không gian của những nơi quen thuộc, tìm được đường quanh khu vực lân cận và ngày càng chơi được những hình ghép phức tạp hơn.
  10. Âm nhạc (2 – 6 tuổi): Trẻ có hứng thú tự nhiên với sự phát triển của cao độ, nhịp điệu và giai điệu của âm thanh.
  11. Toán (0 – 6 tuổi): Trẻ hình thành những khái niệm về số lượng và các phép toán (cộng, trừ, nhân, chia) từ các giáo cụ hình ảnh.

3. Môi Trường Được Chuẩn Bị (The Prepared Environment)

Môi Trường Được Chuẩn Bị

Nêu các thời kỳ nhạy cảm kích thích trẻ khám phá và phát triển kĩ năng thì môi trường xung quanh trẻ chính là phương tiện, công cụ để trẻ hoàn thành được quá trình đó. Một người đã quen với cách giáo dục truyền thống, nơi lớp học thường ồn ào, lộn xộn và không có trật tự sẽ cảm thấy ngỡ ngàng khi quan sát môi trường giáo dục của Montessori, vốn cần hội tụ đủ 6 yếu tố sau:

  • Tự do: tự do trong lựa chọn, trong vận động, trong việc tương tác với người khác và tự do từ chối bị làm phiền bởi người khác.
  • Trật tự và hệ thống: yếu tố này giúp trẻ nhìn thế giới bằng tư duy về trật tự và hệ thống, giúp trẻ hiểu cách thức thế giới hoạt động tốt hơn.
  • Thẩm mỹ: không gian được chuẩn bị một cách đẹp và đơn giản, tạo cảm giác yên bình, hài hòa.
  • Tự nhiên và thực tiễn: mọi nguyên vật liệu đều làm từ tự nhiên như gỗ, tre, kim loại, cotton, kính thay vì nhựa hay chất tổng hợp, trẻ được tiếp xúc thường xuyên với hình ảnh hoặc môi trường thiên nhiên để tạo cảm hứng sáng tạo. Kích thước mọi giáo cụ, đồ vật đều nhỏ phù hợp với trẻ, để trẻ không cảm thấy ức chế khi sử dụng hay phải nhờ sự trợ giúp của người lớn.
  • Môi trường mang tính xã hội: khuyến khích tự do tương tác xã hội, ươm mầm trong trẻ khả năng đồng cảm và trắc ẩn đối với người khác, giúp trẻ phát triển nhận thức xã hội.
  • Môi trường tri thức: chỉ khi tất cả các yếu tố trên được đảm bảo, người lớn mới có thể tiếp xúc được với trẻ qua môi trường tri thức, nơi phát triển con người và trí tuệ của trẻ.

4. Tự Kiểm Soát Lỗi (Control of Error)

Tự Kiểm Soát Lỗi

Trong giáo dục Montessori, người lớn đặc biệt không được can thiệp vào hoạt động của trẻ, dù là để sửa lỗi hay đồng ý. Việc người lớn can thiệp vào có thể phá hủy sự hứng thú tự phát của trẻ hoặc khiến trẻ mất đi sự tự tin như một con ốc sên rụt vào vỏ. Chính vì vậy, mọi giáo cụ và hoạt động trong lớp học Montessori đều được thiết kế đặc biệt để trẻ có thể tự kiểm soát tiến độ và kiểm điểm lại kết quả hoạt động của mình. Ví dụ: các khối rèn luyện giác quan nếu không ghép đúng, thì sẽ không thể ghép được vì không vừa, hay trong hoạt động thực hành rót nước, nếu rót sai thì nước sẽ rơi ra và phải lau dọn. Hiệu quả của yếu tố này thể hiện qua:

  • Người lớn không can thiệp vào hoạt động của trẻ sau khi hoạt động đã được giới thiệu và giao cho trẻ.
  • Trẻ nhận được phản hồi tức thì trong tiến trình hoạt động.
  • Trẻ được hỗ trợ phát triển một sự tự tin tích cực.
  • Trẻ có động lực thử cái mới và dám mạo hiểm.
  • Môi trường hỗ trợ tính tự lập của trẻ để hoàn thành công việc với tiến độ phù hợp.
  • Trẻ học cách tự nhận ra, hiểu, sửa và học từ sai lầm của mình.
  • Trẻ chủ động trong việc học mà không bị ảnh hưởng bởi sự phán xét của người lớn.
  • Trẻ thực sự cảm thấy thỏa mãn khi hoàn thành công việc của mình.

Như vậy, trẻ sẽ không sợ sai và lảng tránh việc khám phá những trải nghiệm mới hoặc khó hơn. Chúng ta cần dạy trẻ cách học và trưởng thành từ sai lầm (như chính chúng ta vậy).

5. Thực Hành Cuộc Sống (Practical Life)

Thực Hành Cuộc Sống

Trong một chương trình học Montessori, những hoạt động trẻ tham gia luôn luôn là một hoạt động thực tiễn trong mọi khía cạnh của đời sống hàng ngày. Trẻ quan sát những hoạt động này từ môi trường xung quanh và tiếp thu kiến thức qua trải nghiệm thực tế về cách xây dựng kĩ năng một cách có mục đích. Những hoạt động này sẽ phải phù hợp với đặc điểm văn hóa vùng miền của từng đứa trẻ. Thực hành cuộc sống cho trẻ một cảm giác tồn tại và là một phần của xã hội, qua sự tham gia cùng chính người lớn chúng ta. Các hoạt động này quay xung quanh bốn mảng:

  • Chăm sóc bản thân
  • Chăm sóc môi trường
  • Phép lịch sự và nhã nhặn
  • Di chuyển đồ vật

Các hoạt động thực hành cuộc sống trong Montessori phải bao gồm các yếu tố sau:

  • Thực tiễn: rửa bát bằng xà phòng thật, gọt hoa quả với dao thật… nhưng vẫn đảm bảo yếu tố an toàn.
  • Không giới hạn: hoàn toàn có thể sáng tạo hoạt động mới phù hợp với văn hóa bản địa, vùng miền…
  • Chỉ 1 bộ / 1 hoạt động: dù số lượng hoạt động không giới hạn, những mỗi hoạt động chỉ có 1 bộ. Điều này giúp đứa trẻ học cách đợi chờ và hiểu rằng cuộc sống không phải lúc nào cũng xoay quanh việc thỏa mãn tức thì. Điều này cũng khiến các giáo cụ hoạt động được trẻ trân trọng hơn rất nhiều.
  • Ngăn nắp: mỗi bộ giáo cụ phải được chứa trong giỏ, trong khay hoặc đặt riêng trên kệ, và phải đầy đủ, sẵn sàng để sử dụng. Người lớn có trách nhiệm bảo đảm tính sẵn sàng của giáo cụ để trẻ có thể hoàn thành được hoạt động. Điều này cũng giúp trẻ hình thành tính con người và thiên hướng trật tự.
  • Hoàn thành: hoạt động phải được hoàn thành đầy đủ. Nếu có thứ gì cần phải được thay thế thì đến cuối hoạt động, người lớn phải hướng dẫn trẻ cách thay thế. Nếu hoạt động không thể hoàn thành vì bất cứ lý do gì, người lớn phải hoàn thành nó hoặc loại bỏ giáo cụ đó khỏi kệ.
  • Vị trí: phải được sắp xếp theo nhóm và đúng vị trí phụ hợp. Ví dụ: hoạt động liên quan đến thức ăn phải ở trong khu vực chuẩn bị thức ăn của lớp, bộ cài khuy áo phải ở trong góc chăm sóc bản thân, hoạt động liên quan tới nước phải ở gần nguồn nước…
  • Trình tự: mỗi hoạt động đều phải có trình tự bắt đầu, giữa và kết thúc. Một trong những dấu hiệu để bắt đầu một hoạt động có thể là đeo tạp dề. Nếu trẻ đeo tạp dề, thì người lớn cũng phải đeo một cái.
  • Đánh dấu màu: mỗi giáo cụ đều phải có màu theo bộ để trẻ biết được một bộ gồm những giáo cụ nào và nếu cần thay thế, có thể làm dễ dàng va thành công.
  • Đồ chứa phù hợp: giỏ hay khay đựng giáo cụ phải có kích thước và thiết kế phù hợp với trẻ để mang đi mang lại không gặp khó khăn.
  • Công năng: tất cả dụng cụ đều phải có mục đích và công năng phù hợp rõ ràng. Những thứ như một con dao không thể cắt sẽ không được sử dụng trong môi trường Montessori. Nếu dụng cụ không có công năng phù hợp với mục đích của nó, trẻ sẽ cố tìm một dụng cụ khác thay thế (sai mục đích) hoặc nghĩ rằng mình không thể làm một hoạt động mà đã thấy rất nhiều người khác làm được.
  • Kích cỡ: mọi thứ phải nhỏ phù hợp với trẻ, kể cả bồn rửa bát, bàn, ghế, cốc, bát, dĩa, thìa…
  • Tỷ lệ phù hợp: ví dụ: một cái xô nước phải đủ nhỏ để trẻ có thể tự sử dụng nhưng cũng phải đủ lớn để đựng đủ lượng nước phù hợp cho hoạt động.
  • Chất liệu tự nhiên: cho trẻ có cảm nhận tốt hơn về mặt thẩm mỹ và xúc giác.
  • Dễ dàng làm sạch: các chất liệu phải được làm sạch đều để bảo đảm vệ sinh, chất liệu tự nhiên thì làm sạch sẽ dễ hơn và ít vi khuẩn hơn.
  • An toàn: mặc dù công năng của giáo cụ phải được đảm bảo nhưng các biện pháp an toàn vẫn được sử dụng: tránh dùng vật liệu độc hại, các vật sắc nhọn thì phải có đầu tròn và các góc cạnh nhọn phải được mài mòn hoặc che đi.
  • Có trật tự: mọi thứ phải luôn có trật tự theo logic, dù là cách người lớn giới thiệu giáo cụ (theo thứ tự sử dụng) hay là cách sắp xếp chúng trên kệ (theo thứ tự tư đơn giản đến phức tạp từ trái qua phải).
  • Văn hóa: thực hành cuộc sống luôn phản ánh đặc điểm văn hóa vùng miền của đứa trẻ tại thời điểm hiện tại. Mọi hoạt động không có chút liên quan gì tới đời sống của trẻ đều không phù hợp. Ví dụ: nếu nhà không có cửa sổ, thì không nên có hoạt động lau cửa sổ.

Tổng Kết

Chúng ta có thể thấy, phương pháp Montessori có những triết lý cực kỳ chi tiết và khác biệt so với với phương pháp giáo dục truyền thống. Những triết lý này dựa trên thành quả nghiên cứu khoa học giáo dục của tiến sĩ Maria trên quan sát thực tế và thực hành cùng hàng nghìn trẻ em ở rất nhiều đất nước và nền văn hóa khác nhau (Ý, Ấn Độ, Mỹ & nhiều nước Châu Âu). Đây là phương pháp giáo dục lấy trẻ em làm trọng tâm thay vì bắt ép các con phải theo khuôn khổ của người lớn, mang lại hiệu quả rất cao về mặt phát triển học thuật lẫn phát triển tâm lý tích cực cho các con. Nếu quý phụ huynh muốn biết thêm về cách làm thế nào để áp dụng phương pháp Montessori, xin hãy đọc bài này.

0 Lời bình

Bình Luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Những Bài Viết Liên Quan:

Bí Kíp Dạy Con Theo Phương Pháp Montessori – Tự Lập

Tạo Hóa đã ban cho đứa trẻ một khả năng thiên bẩm để tự lập ngay từ khi mới sinh ra. Thật là khó tin phải không? Hãy cùng tìm hiểu và hỗ trợ con phát triển khả năng này theo phương pháp Montessori nhé!

Montessori – Giáo Dục Vì Hòa Bình

Rất nhiều người đang nghe về phong trào giáo dục Montessori, nhưng chỉ một số ít biết về lịch sử hình thành và ý nghĩa đặc biệt của nó: Giáo dục vì hòa bình thế giới.

BẠN CÓ MUỐN NHẬN NGAY NHỮNG BÀI VIẾT MỚI NHẤT TỪ PAKIMA KHÔNG?


face


email

Liên hệ

Email: support@pakima.edu.vn

Hotline: 0986.672.536

Địa chỉ

R1-201, Goldmark City

136 Hồ Tùng Mậu, Hà Nội